Ngày nay, giáo dục Úc đã trở thành một ngành công nghiệp khổng lồ hái ra hàng tỷ đô-la. Vì sao Úc là mảnh ‘đất lành chim đậu’ quyến rũ du học sinh quốc tế, trong đó có sinh viên Việt Nam?

Từ thập niên 1990 trở đi, Chính phủ Úc tăng cường mạnh mẽ việc bang giao với các nước trong vùng Châu Á-Thái Bình Dương cùng với chính sách thúc đẩy dịch vụ giáo dục trong nước để thu hút sinh viên quốc tế. (Bộ Ngoại giao và Thương mại Úc)
Muốn ăn quả, phải biết trồng cây
Báo cáo ‘Chiến lược của Úc về sinh viên quốc tế’ (International Students Strategy for Australia) do Hội đồng Chính phủ Úc (COAG) soạn thảo và Bộ trưởng Giáo dục Chris Evans công bố năm 2010 khẳng định giáo dục là ngành ‘xuất khẩu công nghiệp’ lớn thứ ba ở Úc. Ngành này có trị giá 18,6 tỷ đô-la, mang lại khoảng 125.000 công ăn việc làm cho người Úc đồng thời là nguồn cung cấp lao động tay nghề cao cho xứ sở chuột túi.
Năm 2010, trong tổng số 1,1 triệu sinh viên Úc có 619.119 sinh viên quốc tế đến từ 190 nước (thống kê của Australia Education International). Có 26.000 môn học trong hơn 1.200 đại học, cơ sở đào tạo nghề và trường học, được chia làm ba lĩnh vực chính: đào tạo bậc cao; huấn luyện dạy nghề và học tiếng Anh.
Để có được tiếng tăm và hiệu quả ‘đẹp như mơ’ ấy, dĩ nhiên dịch vụ giáo dục đã nằm trong quốc sách của chính phủ Úc từ nhiều thập niên trước, kể từ Chương trình Colombo từ cuối thập niên 1950, qua đó gắn liền việc phát triển giáo dục với chính sách viện trợ.
Tại Úc, chính phủ miễn giảm học phí giáo dục đại học từ năm 1974. Trong khi đó du học sinh quốc tế tại Úc được nước chủ nhà cấp học bổng (Colombo và các đề án khác), hay được chính phủ nước họ tài trợ hoặc chỉ đóng học phí miễn giảm như sinh viên Úc. Trong gần nửa triệu sinh viên quốc tế ở Úc chỉ có khoảng 5000 sinh viên được học bổng do chính phủ Úc cấp.
Làn sóng quốc tế hóa là một xu hướng chính trong giáo dục toàn cầu từ những năm 1980. Hồi năm 1986, chính phủ Úc quyết định mở rộng cửa cho sinh viên quốc tế bằng cách cho phép các trường đại học đón nhận sinh viên nước ngoài đến Úc bằng 100% tiền học phí tự túc. Một làn sóng tuyển sinh và tiếp thị khổng lồ diễn ra khiến lượng sinh viên đến Úc tăng vọt đến… 2.000% trong 20 năm kể từ 1986 đến 2006 (theo bài viết của tác giả Alison Moodie trên trang mạng Tin tức Đại học thế giới ngày 6/3/2011).
Các ngành học được sinh viên quốc tế ưa thích là kinh doanh, quản trị và kinh tế. Các ngành nghiên cứu sau đại học được nữ sinh viên quốc tế chọn là nghệ thuật, khoa học xã hội và nhân văn. Trong khi đó các ngành nam sinh viên thường chọn là khoa học và kỹ thuật. Xu thế này cũng tương tự ở giới sinh viên bản xứ Úc.
Theo thống kê của Bộ Ngoại giao và Thương mại Úc (DFAT), vào năm 1993, Victoria là tiểu bang có sinh viên nước ngoài đến học nhiều nhất (32%), với các trường thu hút hàng đầu như Monash, Học viện Kỹ thuật Hoàng gia Melbourne, tức Đại học RMIT...
Jennie Lang, Phó văn phòng Quốc tế Đại học New South Wales, cho biết nguyên nhân của sự thành công trên: “Chính phủ Úc đã tập trung đầu tư cho ngành công nghiệp giáo dục đồng thời tự các trường đại học cũng làm mọi thứ có thể để quảng bá rộng rãi, tăng cường dịch vụ thu hút và chăm sóc sinh viên quốc tế. Nước Úc đã nổi lên như một môi trường giáo dục quốc tế”.
Trong nghiên cứu ‘Một thế kỷ thay đổi dân số ở Úc’ Giáo sư Graeme Hugo (Cựu Chủ tịch Hiệp hội Dân số Úc), nhận định rằng: “Sự tăng trưởng của sinh viên nước ngoài đến Úc du học là điều hiển nhiên, mặc dù làn sóng này có suy thoái vào thời điểm khủng hoảng kinh tế ở Châu Á năm 1997”.
Lợi ích từ các sinh viên quốc tế đến Úc quá rõ ràng trên cả ba cấp độ: cá nhân, tổ chức và quốc gia.
Lợi ích trực tiếp là giáo dục Úc trở nên phong phú, đa dạng và trở thành ‘môi trường quốc tế’, đồng thời có nguồn doanh thu khổng lồ từ học phí sinh viên. Vào năm 1993, học phí trung bình hàng năm cho sinh viên theo học vị tiến sĩ là 15.000 đô-la, học vị thạc sĩ và nghiên cứu sau đại học là 12.000 đô-la và cử nhân là 10.000 đô-la. Theo thống kê năm 1993, tổng học phí thu được từ sinh viên nước ngoài ở Úc là 339 triệu đô-la.
Lợi ích gián tiếp là sự tăng trưởng kinh tế trong nước và quan hệ hợp tác thương mại giữa Úc và các nước khác, đặc biệt là khu vực Châu Á.
Nước Úc chỉ có một lo lắng duy nhất là lượng sinh viên nước ngoài gia tăng thì liệu có làm quyền lợi của sinh viên bản xứ giảm đi hay không. Tuy nhiên, chính phủ Úc đã đảm bảo sinh viên trong nước sẽ không bị bất cứ thiệt thòi gì khi theo học ở các trường đại học phù hợp ý thích và hoàn cảnh.
Chiến lược Châu Á
Nhìn lại thập niên 1980 và 1990, có thể thấy rằng chính việc tăng cường bang giao, liên kết chính trị, kinh tế và văn hóa giữa chính phủ Úc và các nước trong vùng Châu Á-Thái Bình Dương nói chung cùng với chính sách thúc đẩy dịch vụ giáo dục trong nước để thu hút sinh viên quốc tế nói riêng đã giúp Úc có được ‘quả ngọt’ như mong đợi ở ngày hôm nay.
Từ thời kỳ 1994-1995, số tiền Úc viện trợ cho khu vực Châu Á lên tới 565 triệu đô-la. Úc là thành viên của Diễn đàn Hợp tác Châu Á-Thái Bình Dương (APEC), liên minh an ninh với nước láng giềng Indonesia (1995). Vào năm 1995 có 40% nhân viên Bộ Ngoại giao và Thương mại Úc (DFAT) làm việc ở Châu Á so với 31% năm 1985.
Cũng trong năm 1995, có 31 nhân viên làm trong Cơ quan Phát triển Quốc tế (AusAID – đơn vị cấp nhiều học bổng cho sinh viên qua các dự án giáo dục) tại các văn phòng đại diện ở Châu Á, tăng nhiều so với trước đó (chỉ 18 người năm 1985). Đội ngũ nhân viên AusAID làm việc tại Việt Nam nhiều hơn gấp đôi và tại Lào nhiều hơn gấp ba. Trong khi đó các đối tác lớn của Úc vẫn là Indonesia, Trung Quốc...
Tỷ lệ thăm chính thức của các bộ trưởng Úc tới các nước Châu Á cũng tăng từ 36% (1985-1986) lên 48% (1993-1994). Ví dụ ở Việt Nam, từ không có lần thăm nào (1985) đến bốn lần (1994).
Năm 1993, ba quốc gia có sinh viên sang Úc theo học nhiều nhất đều là các nước Châu Á: Malaysia, Hong Kong và Singapore (chiếm 49% tổng số sinh viên đến Úc). Làn sóng sinh viên đến Úc từ các nước châu Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ...) vẫn tăng mạnh cho đến ngày nay.
Theo công trình nghiên cứu mang tên ‘Giáo dục không biên giới’ do Đơn vị Phân tích Kinh tế của Bộ Ngoại giao và Thương mại Úc biên soạn vào năm 2005, Monash là trường đại học Úc đầu tiên ‘lấn sân’ ra quốc tế khi xây dựng một cơ sở tại tại Malaysia. Trong năm cơ sở đại học nước ngoài ở Malaysia thì có ba xuất phát từ Úc.
Ở Việt Nam, Úc là nước tiên phong tham gia thành lập cơ sở đại học tư nhân. Trường đại học tư quốc tế đầu tiên thành lập tại Việt Nam chính là Đại học Quốc tế RMIT Việt Nam.
Trong bối cảnh nước Úc đẩy mạnh dịch vụ giáo dục để thu hút sinh viên nước ngoài nói chung và sinh viên Châu Á nói riêng, Việt Nam là một quốc gia riêng lẻ cũng nằm trong ‘vòng xoáy quyến rũ’ từ thập niên 1990.
Đây cũng chính là thời kỳ mà nền ngoại giao, hợp tác song phương về kinh tế, đầu tư, văn hóa, giáo dục giữa Úc và Việt Nam có những cột mốc lịch sử quan trọng.
(Theo bayvut.com.au)
- 04/07/2011 03:00 - 2
- 01/06/2011 06:25 - New Zealand dành 68 triệu USD quảng bá giáo dục quốc tế
- 26/05/2011 01:43 - Du học Úc: Nhiều chứng chỉ tiếng Anh được chấp nhận
- 25/05/2011 01:48 - Úc công nhận chứng chỉ tiếng Anh Cambridge CAE
- 20/05/2011 03:50 - Một số thay đổi trong visa sinh viên của Anh từ 21/4/2011
- 05/05/2011 03:54 - Số lượng sinh viên đại học tại Úc gia tăng
- 13/04/2011 03:01 - Sôi nổi hoạt động du học sinh Việt Nam tại Melbourne
- 30/03/2011 07:39 - HỌC VIỆN QUẢN LÝ SINGAPORE – SIM tuyển sinh năm học 2011
- 30/03/2011 02:54 - Sinh viên Việt Nam thêm nhiều cơ hội học tập tại Mỹ
- 21/03/2011 03:57 - Úc cải tổ chính sách thu hút du học sinh








